a. Chủ trương cuả Đảng về giải quyết
các vấn đề xã hội
-
Giai đoạn 1945 - 1954:
Ngay
sau cách mạng tháng Tám và trong những năm thực hiện nhiệm vụ "kháng chiến
kiến quốc" chính sách xã hội cấp bách là làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ
ở và được học hành. Tiếp sau đó là làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn
thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm. Chủ trương này đã nhanh chóng đi
vào cuộc sống và đạt được những hiệu quả thiết thực.
Các
vấn đề xã hội được giải quyết trong mô hình Dân chủ nhân dân:
+
Chính phủ có chủ trương và hướng dẫn để các tầng lớp nhân dân chủ động và tự tổ
chức giải quyết các vấn đề xã hội của chính mình.
+
Chính sách tăng gia sản xuất nhằm tự cấp tự túc, chủ trương tiết kiệm, đồng cam
cộng khổ trở thành phong trào rộng rãi, từ cơ quan chính phủ đến bộ đội, dân
chúng, được coi trọng như đánh giặc.
+
Khuyến khích mọi thành phần xã hội phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường.
Thực hiện chính sách điều hoà lợi ích giữa chủ và thợ.
-
Giai đoạn 1955 - 1975:
Các
vấn đề xã hội được giải quyết trong mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu cũ, trong
hoàn cảnh chiến tranh. Chế độ phân phối về thực chất là theo chủ nghĩa bình
quân. Nhà nước và tập thể đáp ứng các nhu cầu xã hội thiết yếu bằng chế độ bao
cấp tràn lan dựa vào viện trợ.
-
Giai đoạn 1975 - 1985:
Các
vấn đề xã hội được giải quyết theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao
cấp, trong hoàn cảnh đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội
nghiêm trọng, nguồn viện trợ giảm dần, bị bao vây, cô lập, cấm vận.
b. Đánh giá việc thực hiện đường lối
Chính
sách xã hội trong giai đoạn này tuy có nhiều điểm hạn chế nhưng đã bảo đảm được
sự ổn định của xã hội, đồng thời còn đạt được thành tựu phát triển đáng tự hào
trên một số lĩnh vực như văn hoá, giáo dục, y tế, lối sống, đạo đức, kỷ cương
và an sinh xã hội, hoàn thành nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn.
Những
thành tựu đó nói lên bản chất tốt đẹp của chế độ mới và sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng trong giải quyết các vấn đề xã hội trong điều kiện chiến tranh kéo dài,
kinh tế chậm phát triển.
Hạn
chế và nguyên nhân
+
Trong xã hội đã hình thành tâm lý thụ động, ỷ lại vào Nhà nước và tập thể trong
cách giải quyết các vấn đề xã hội.
+
Chế độ phân phối trên thực tế là bình quân cao bằng không khuyến khích những
đơn vị cá nhân làm tốt, làm giỏi...
+
Đã hình thành một xã hội đóng, ổn định nhưng kém năng động, chậm phát triển về
nhiều mặt.
Nguyên
nhân cơ bản của các hạn chế trên là chúng ta đặt chưa đúng tầm chính sách xã hội
trong quan hệ với chính sách kinh tế, chính trị, đồng thời lại áp dụng và duy
trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp.






0 nhận xét:
Đăng nhận xét