a.Hoàn cảnh lịch sử và quá trình
hình thành đường lối
Hoàn
cảnh lịch sử:
-Tình
hình thế giới : từ giữa những năm 1980, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiếp
tục phát triển mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống của các quốc gia,
dân tộc. Các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng khoảng sâu sắc. Đến đầu những
năm 1990, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sụp đổ, dẫn đến những biến đổi to lớn
về quan hệ quốc tế. Trật tự thế giới được hình thành từ sau chiến tranh thê giới
thứ hai trên cơ sở hai khối đối lập do Liên Xô và Hoa Kỳ đứng đầu (trật tự thế
giới hai cực) tan rã, mở ra thời kỳ hình thành một trật tự thế giới mới. Xu thế
chạy đua phát triển kinh tế khiến các nước, nhất là những nước đang phát triển
đã đổi mới tư duy đối ngoại, thực hiện chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá
quan hệ quốc tế ; mở rộng và tăng cương liên kết , hợp tác với các nước
phát triển để tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ, mở rộng thị trường, học tập
kinh nghiệm tổ chức, quản lý sản xuất kinh.
-Tình
hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương, từ những năm 1990, có nhiều chuyển biến
mới: Trước hết trong khu vực tuy vẫn tồn tại những bất ổn, như vấn đề hạt nhân,
vấn đề tranh chấp lãnh hải thuộc vùng biển Đông và việc một số nước trong khu vực
tăng cường vũ trang, nhưng châu Á - Thái Bình Dương vẫn được đánh giá là khu vực
ổn định ; hai là, châu Á - Thái Bình Dương có tiềm lực lớn và năng động về
phát triển kinh tế. Xu thế hoà bình và hợp tác trong khu vực phát triển mạnh.
Các
giai đoạn hình thành, phát triển đường lối
Giai
đoạn 1986-1996: Xác lập đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa dạng
hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế.
+
Đại hội VI của Đảng ( 12 /1986) trên cơ sở nhận thức đặc điểm nổi bật của thế
giới là cuộc cách mạng khoa - học kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, đẩy nhanh quá
trình quốc tế hoá lực lượng sản xuất, Đảng ta nhận định: “ xu thế mở rộng phân
công, hợp tác giữa các nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế – xã hội khác
nhau,cũng là những điều kiện rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước ta
+
Triển khai chủ trương của Đảng, tháng 12-1987, luật đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam được ban hành.
+
Tháng 5-1988, Bộ chính trị ra nghị quyết số 13 về nhiệm vụ và chính sách đối
ngoại trong tình tình mới, khẳng định mục tiêu chiến lược và lợi ích cao nhất của
Đảng và nhân dân ta là phải củng cố và giư vững hoà bình để tập trung sức xây dựng
và phát triển kinh tế.
+
Đại hội VII của Đảng ( 6/1991) đề ra chủ trương “hợp tác bình đẳng và cùng có lợi
với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị – xã hôi khác nhau, trên
cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình”, với phương châm “ Việt Nam muốn
làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc
lập và phát triển”. Đại hội VII đã đổi mới chính sách đối ngoại với các đối tác
cụ thể. Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khoá VII (tháng 6-1992) nhấn
mạnh yêu cầu đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tê. Hội nghị giữa nhiệm kỳ
khoá VII (1/1994) chủ trương: giữ vững
nguyên tắc độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội đồng thời phải rất sáng tạo,
năng động, linh hoạt phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của Việt
Nam cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp với đặc điểm
từng đối tượng.
+
Đại hội VIII xác định rõ hơn quan điểm đối ngọai với các nhóm đối tác như: ra sức
tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong tổ chức ASEAN;
không ngừng củng cố quan hệ với các nước bạn bè truyền thống; coi trọng quan hệ
với các nước phát triển và các trung tâm kinh tế - chính trị thế giới; đoàn kết
với các nước đang phát ttriển, với phong trào không liên kết; tham gia tích cực
và đóng góp cho hoạt động của các tổ chức quốc tế, các diễn đàn quốc tế.
+
Đại hội IX của Đảng (4/2001), Đảng nhấn mạnh chủ trương chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực.
+
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (tháng 4-2006) nêu quan điểm : thực
hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình hợp tác và phát triển;
chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế
b.Nội dung đường lối đối ngoại, hội
nhập kinh tế quốc tế
Mục
tiêu nhiệm vụ đối ngoại .
Lấy
việc giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi
cho công cuộc đổi mới, để phát triển kinh tế – xã hội là lợi ích cao nhất của Tổ
quốc . Mở rộng đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế là để tạo thêm nguồn lực
đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước; kết hợp nội lực với các nguồn lực từ
bên ngoài tạo thành nguồn lực tổng hợp để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; phát
huy vai trò và nâng cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ quốc tế; góp phần
tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Tư
tưởng chỉ đạo.
Bảo
đảm lợi ích dân tộc chân chính là xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa, đồng thời thực hiện nghĩa vụ quốc tế theo khả năng của Việt
Nam.
Giữ
vững độc lập tự chủ, tự cường đi đôi với đẩy mạnh đa phương hoá, đa dạng hoá
quan hệ đối ngoại.
Nắm
vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế; cố gắng thúc đẩy mặt hợp
tác, nhưng vẫn phải đấu tranh dưới hình thức và mức độ thích hợp với từng đối
tác; đấu tranh để hợp tác; tránh trực diện đối đầu, tránh để bị đẩy vào thế cô
lập.
Mở
rộng quan hệ với mọi quốc gia và vùng lãnh thổ trên thê giới, không phân biệt chế
độ chính trị xã hội. Coi trọng quan hệ hoà bình, hợp tác với khu vực;chủ động
tham gia các tổ chức đa phương, khu vực toàn cầu.
Kết
hợp đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Xác định hội
nhập kinh tế quốc tế là công việc của toàn dân.
Giữ
vững ổn định chính trị, kinh tế – xã hội; giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc; bảo
vệ môi trường sinh thái trong quá trình hội nhập kinh tê quốc tế.
Phát
huy tối đa nội lực đi đôi với thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên
ngoài; xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ; tạo ra và sử dụng có hiệu quả các lợi
thế so sánh của đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Trên
cơ sở thực hiện các cam kết gia nhập WTO, đẩy nhanh nhịp độ cải cách thể chế,
cơ chế, chính sách kinh tế phù hợp với chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà
nước.
Giữ
vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy vai trò của Nhà nước,
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ
của nhân dân, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế.
Một
số chủ trương, chính sách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh kế quốc
tế Trong các văn kiện của Đảng liên quan đến đối ngoại, đặc biệt là Nghị quyết
Hội nghị Trung ương 4 khoá X (2/2007) đã đề ra một số chủ trương, chính sách lớn
như:
-
Đưa ra các quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững:
Hội nhập sâu sắc và đầy đủ vào nền kinh tế thế giới, nước ta sẽ có địa vị bình
đẳng với các thành viên khác khi tham gia vào việc hoạch định chính sách thương
mại toàn cầu, thiết lập một trận tự kinh tế mới công bằng hơn; có điều kiện thuận
lợi để đấu tranh bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp Việt Nam trong các cuộc tranh chấp
thương mại với các nước khác, hạn chế được những thiệt hại trong hội nhập kinh
tế quốc tế.
-
Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp: Chủ động
và tích cực xác định lộ trình hội nhập hợp lý, trong đó cần vận dụng các ưu đãi
mà WTO dành cho các nước đang phát triển và kém phát triển; chủ động và tích cực
nhưng phải hội nhập từng bước, dần dần mở cửa thị trường theo một lộ trình hợp
lý.
-
Bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế kinh tế phù hợp với các
nguyên tắc, quy địng của WTO: Bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật; đa dạng
hoá các hình thức sở hữu, phát triển kinh tế nhiều thành phần; thúc đẩy sự hình
thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường; xây dựng các sắc
thuế công bằng, thống nhất, đơn giản, thuận tiện cho mọi chủ thể kinh doanh.
-
Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực cho bộ máy nhà nước:
Kiên quyết loại bỏ nhanh các thủ tục hành chính không còn phù hợp; đẩy mạnh
phân cấp gắn với tăng cường trách nhiệm và kiểm tra, giám sát; thực hiện công
khai, minh mạch mọi chính sách, cơ chế quản lý.
-
Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm trong hội nhập
kinh tế quốc tê: Nâng cao năng lực điều hành của Chính phủ; tích cực thu hút đầu
tư nước ngoài để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; các doanhnghiệp điều
chỉnh quy mô và cơ cấu sản xuất trên cơ sở xácđịnh đúng đắn chiến lược sản phẩm
và thị trường; điều chỉnh quy hoạch phát triển, nhanh chóng có biện pháp nâng
cao sức cạnh tranh của một số sản phẩm.
-
Giải quyết tốt các vấn đề văn hoá, xã hội và môi trường trong qua trình hội nhập:
Bảo vệ và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc trong quá trình hội nhập; xâydựng
cơ chế kiểm soát và chế tài quản lý sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ văn
hoá không lành mạnh, không thương hại đến sự phát triển đất nước, văn hoá và
con người Việt Nam; kết hợp hài hoà giữa giữ gìn và phát huy các giảtị văn hoá
truyền thống với tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hoá tiên tiến trong quá
trình giao lưu với các nền văn hoá bên ngoài.
- Xây dựng và vận hành có hiệu quả mạng lưới
an sinh xã hội như giao dục, bảo hiểm, y tế; đẩy mạnh công tác xoá đói, giảm
nghèo; có các biện pháp cấm, hạn chế nhập khẩu những mặt hàng có hại cho môi
trường; tăng cường hợp tác quốc tế trên lĩnh vực bao vệ môi trường.
- Giữ vững và tăng cường quốc phòng, an ninh
trong quá trình hội nhập: Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân
vững mạnh; có các phương án chống lại âm mưu “diễn biến hoà bình” của cá thế lực
thù địch.
-
Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại
nhân dân ; chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại: Tạo cơ chế phối hợp
chặt chẽ giữa hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại
nhân dân nhằm tăng cường hiệu quả của hoạt động đối ngoại. Các hoạt động đối
ngoại song phương và đa phương cần hướng mạnh vào việc phục vụ đắc lực nhiệm vụ
mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Tích cực
tham gia đấu tranh vì một hệ thống quan hệ kinh tế quốc dân bình đẳng, công bừng
cùng có lợi.
- Đổi mới và tăngcường sự lãnh đạo của Đảng, sự
quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại. Tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng, tập trung xây dựng cơ sở đảng trong các doanh nghiệp và xây dựng giai cấp
công nhân trong điều kiện mới; đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân, vì dân, trọng tâm là cải cách hành chính.
c.Thành tựu và ý nghĩa
-Một
là, phá thế bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch, tạo dựng môi trường quốc
tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tháng 7-1995 Việt Nam ra
nhập ASEAN, đánh dấu sự hội nhập của nước ta với khu vực Đông Nam Á.
-Hai
là, giải quyết hoà bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển đảo với các nước
liên quan
-Ba
là, mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá. Lần đầu tiên
trong lịch sử, Việt Nam có quan hệ chính thức với tất cả các nước lớn, kể cả 5
nước Uỷ viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; Việt Nam đã thiết lập
quan hệ ngoại giao với 169 nước trong tổng số hơn 200 nước trên thế giới. Tháng
10-2007, Đại Hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam làm uỷ viên không thường trực
Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2008-2009.
-Bốn
là, tham gia các tổ chức quốc tế. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thê giới
(WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB, Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái
Bình Dương (APEC); ngày 11-1-2007, Việt Nam được kết nạp là thành viên thứ 150
của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Năm
là, thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường, tiêp thu khoa học công nghệ
và kỹ năng quản lý
d.Hạn chế và nguyên nhân
-
Trong quan hệ với các nước, nhất là các nước lớn, chúng ta còn lúng túng, bị động.
Chưa xây dựng được quan hệ lợi ích đan xen, tuỳ thuộc lẫn nhau với các nước.
- Một số chủ trương, cơ chế, chính sách chậm
được đổi mới so với yêu cầu mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế;
hệ thống luật pháp chưa hoàn chỉnh, không đồng bộ, gây khó khăn trong việc thực
hiện các cam kết của các tổ chức kinh tế quốc tế.
-
Chưa hình thành được một kế hoạch tổng thể về hội nhập kinh tế quốc tế và một lộ
trình hợp lý cho việc thực hiện các cam kết.
- Doanh nghiệp nước ta hầu hết qui mô nhỏ, yếu
kém cả về quản lý và công nghệ; trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, trình độ,
trang thiết bị lạc hậu; kết cấu hạ tầng và các ngành dịch vụ cơ bản phục vụ sản
xuất kinh doanh đều kém phát triển và có chi phí cao hơn các nước khác trong
khu vực.
-
Đội ngũ cán bộ lĩnh vực đối ngoại nhìn chung chưa đáp ứng được nhu cầu cả về số
lượng và chất lượng; cán bộ doanh nghiệp ít hiểu biết về pháp luật quốc tế, về
kỹ thuật kinh doanh. Quá trình thực hiện đường lối đối ngoại, hội nhập kinh tế
quốc tế từ năm 1986 đến năm 2008 mặc dù còn những hạn chế, nhưng thành tựu là
cơ bản, có ý nghĩa rất quan trọng: góp phần đưa đất nước ra khỏi khủng khoảng
kinh tế






0 nhận xét:
Đăng nhận xét