a. Hoàn cảnh lịch sử
- Tháng 11/1946, quân Pháp mở cuộc
tấn công chiếm đóng cả thành phố Hải Phòng và thị xã Lạng Sơn, đổ bộ lên Đà
Nẵng và gây nhiều cuộc khiêu khích, tàn sát đồng bào ta ở phố Yên Ninh - Hàng
Bún (Hà Nội). Đồng thời Pháp gửi tối hậu thư cho chính phủ ta, đòi phải tước
hết vũ khí của tự vệ Hà Nội, đòi kiểm soát an ninh trật tự ở Thủ đô.
- Trước tình hình đó, từ ngày 13 đến
ngày 22/12/1946 Ban thường vụ trung ương Đảng ta đã họp tại Vạn Phúc, Hà Đông
dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh để hoạch định chủ trương đối phó. Hội
nghị đã cử phái viên đi gặp phía Pháp để đàm phán, song không có kết quả. Hội
nghị cho rằng khả năng hoà hoãn không còn. Hoà hoãn nữa sẽ dẫn đến hoạ mất
nước, nhân dân sẽ trở lại cuộc đời nô lệ. Do đó, hội nghị đã quyết định hạ
quyết tâm phát động cuộc kháng chiến trong cả nước và chủ động tiến công trước
khi thực dân Pháp thực hiện màn kịch đảo chính quân sự ở Hà Nội. Mệnh lệnh
kháng chiến được phát đi. Vào lúc 20h ngày 19/12/1946, tất cả các chiến trường
trong cả nước đã đồng loạt nổ súng. Rạng sáng ngày 20/12/1946, lời kêu gọi toàn
quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh được phát đi trên Đài tiếng nói Việt Nam.
Thuận lợi của nhân dân ta bước vào cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược là: cuộc chiến tranh của ta là cuộc chiến
tranh chính nghĩa bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc, ta đã có sự chuẩn bị
cần thiết về mọi mặt, nên về lâu dài, ta sẽ có khả năng đánh thắng quân xâm
lược.
Khó khăn của ta là: Tương quan lực lượng
quân sự yếu hơn địch. Ta bị bao vây bốn phía, chưa được nước nào công nhận,
giúp đỡ. Còn quân Pháp lại có vũ khí tối tân, đã chiếm đóng được hai nước Lào,
Campuchia và một số nơi ở Nam Bộ Việt Nam, có quân đội đứng chân trong các
thành thị lớn ở Miền Bắc.
b. Quá trình hình thành và nội dung
đường lối kháng chiến
- Ngay sau cách mạng tháng Tám,
trong chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" Đảng ta đã khẳng định kẻ thù
chính của dân tộc ta là thực dân Pháp xâm lược. Trong quá trình chỉ đạo cuộc
kháng chiến ở Nam Bộ, trung ương Đảng và Hồ Chí Minh đã chỉ đạo kết hợp đấu
tranh chính trị, quân sự với ngoại giao để làm thất bại âm mưu của Pháp định
tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam.
- Ngày 19/10/1946 thường vụ trung
ương Đảng mở Hội nghị Quân sự toàn quốc lần thứ nhất, do Tổng Bí thư Trường
Chinh chủ trì. Xuất phát từ nhận định "không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh
mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp". Hội nghị đã đề ra những chủ
trương, biện pháp cụ thể cả về tư tưởng và tổ chức để quân dân cả nước sẵn sàng
bước vào cuộc chiến đấu mới. Trong chỉ thị Công việc khẩn cấp bây giờ ra ngày
5/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên những việc có tầm chiến lược, toàn
cục khi bước vào cuộc kháng chiến và khẳng định lòng tin vào thắng lợi cuối
cùng.
- Đường lối toàn quốc kháng chiến
của Đảng được thể hiện qua 3 văn kiện chính là: Lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến của Hồ Chí Minh (20/12/1946), Chỉ thị "Toàn dân kháng chiến"
của trung ương Đảng (22/12/1946) và tác phẩm "Kháng chiến nhất định thắng
lợi" của đồng chí Trường Chinh (9/1947).
Nội dung đường lối:
+ Mục đích kháng chiến: là để tiếp
tục sự nghiệp cách mạng tháng Tám, đánh thực dân Pháp xâm lược, hoàn thành giải
phóng dân tộc, giành độc lập và thống nhất thật sự cho Tổ quốc.
+ Tính chất kháng chiến: Cuộc kháng
chiến của ta là chiến tranh nhân dân, chiến tranh chính nghĩa. Vì vậy, cuộc
kháng chiến của ta có tính chất dân tộc giải phóng và dân chủ mới.
+ Chính sách kháng chiến: "Liên
hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động thực dân Pháp. Đoàn kết với Miên - Lào
và các dân tộc yêu chuộng tự do, hoà bình. Đoàn kết chặt chẽ toàn dân, thực
hiện toàn dân kháng chiến ...phải tự cấp, tự túc về mọi mặt".
+ Nhiệm vụ kháng chiến:
1. Đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược
để giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc.
2. Trong quá trình kháng chiến không
thể không thực hiện những cải cách dân chủ, tiến hành từng bước chính sách
ruộng đất của Đảng nhằm bồi dưỡng sức dân, củng cố khối liên minh công nông,
phân hoá cô lập kẻ thù.
3. Không chỉ đấu tranh cho ta mà còn
bảo vệ hoà bình thế giới.
+ Phương châm tiến hành kháng chiến:
tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực hiện kháng chiến toàn dân, toàn diện,
lâu dài, dựa vào sức mạnh là chính.
Kháng chiến toàn dân: Là toàn dân
đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang, có ba thứ quân làm nòng cốt… "Bất kỳ đàn
ông, đàn bà không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người
trẻ. Hễ là người Việt Nam đứng lên đánh thực dân Pháp", thực hiện mỗi
người dân là một chiến sỹ, mỗi làng xóm là một pháo đài.
Kháng chiến toàn diện: Đánh địch về
mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, ngoại giao. Trong đó:
Kháng chiến về chính trị: Thực hiện
đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân
dân; đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hoà bình.
Kháng chiến vê quân sự: Thực hiện vũ
trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tiêu diệt địch, giải
phóng nhân dân và đất đai, thực hiện du kích chiến tiến lên vận động chiến,
đánh chính quy, là "triệt để dùng du kích, vận động chiến. Bảo toàn thực
lực, kháng chiến lâu dài.... vừa đánh vừa võ trang thêm, vừa đánh vừa đào tạo
thêm cán bộ".
Kháng chiến về kinh tế: Phá hoại
kinh tế địch như đường giao thông, cầu, cống, xây dựng kinh tế tự cung tự cấp,
tập trung phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp
quốc phòng theo nguyên tắc: “Vừa kháng chiến vừa xây dựng đất nước”.
Kháng chiến về văn hoá: Xoá bỏ văn
hoá thực dân, phong kiến, xây dựng nền văn hoá dân chủ mới theo ba nguyên tắc:
dân tộc, khoa học, đại chúng.
Kháng chiến về ngoại giao: Thực hiện
thêm bạn bớt thù, biểu dương thực lực. "Liên hiệp với dân tộc Pháp, chống
phản động thực dân pháp", sẵn sàng đàm phán nếu Pháp công nhận Việt Nam
độc lập.
Kháng chiến lâu dài: Là để chống âm
mưu đánh nhanh, thắng nhanh của Pháp, để có thời gian để củng cố, xây dựng lực
lượng, nhằm chuyển hoá tương quan lực lượng từ chỗ ta yếu hơn địch đến chỗ ta
mạnh hơn địch, đánh thắng địch.
Kháng chiến dựa sức mình là chính,
trước hết phải độc lập về đường lối chính trị, chủ động xây dựng và phát triển
thực lực của cuộc kháng chiến, đồng thời coi trọng viện trợ quốc tế.
Triển vọng kháng chiến: Mặc dù lâu
dài, gian khổ, khó khăn, song nhất định thắng lợi.
c. Kết quả, ý nghĩa lịch sử, nguyên
nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm
a. Kết quả và ý nghĩa lịch sử
a1. Kết quả của việc thực hiện đường
lối
Về chính trị: Đảng ra hoạt động công
khai đã có điều kiện kiện toàn tổ chức, tăng cường sự lãnh đạo đối với cuộc
kháng chiến. Bộ máy chính quyền năm cấp được củng cố. Mặt trận Liên hiệp quốc
dân Việt Nam (Liên Việt) được thành lập. Khối đại đoàn kết toàn dân phát triển
lên một bước mới. Chính sách ruộng đất được triển khai, từng bước thực hiện
khẩu hiệu người cày có ruộng.
Về quân sự: Đến cuối năm 1952, lực
lượng chủ lực đã có sáu đại đoàn bộ binh, một đại đoàn công binh - pháo binh.
Thắng lợi các chiến dịch Trung Du. Đường 18, Hà Nam Ninh, Hoà Bình, Tây Bắc,
Thượng Lào...đã tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất
đai và dân cư, mở rộng vùng giải phóng của Việt Nam và cho cách mạng Lào....
Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một
Bạch Đằng một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX và đi vào lịch sử thế
giới như một chiến công hiển hách, báo hiệu sự thắng lợi của nhân dân các dân
tộc bị áp bức, sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân.
Về ngoại giao: Với phương châm kết
hợp đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao, khi biết tin Pháp có ý định đàm
phán, thương lượng với ta, ngày 27-12-1953, Ban Bí thư ra Thông tư nêu rõ:
"lập trường của nhân dân Việt Nam là kiên quyết kháng chiến đến thắng lợi
cuối cùng. Song nhân dân và Chính phủ ta cũng tán thành thương lượng nhằm mục
đích giải quyết hoà bình vấn đề Việt Nam". Ngày 8-5-1954, Hội nghị quốc tế
về chấm dứt chiến tranh Đông Dương chính thức khai mạc ở Giơnevơ (Thuỵ Sĩ). Ngày
20-7-1954, các văn bản của Hiệp nghị Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại
hoà bình ở Đông Dương được ký kết, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
lược của quân dân ta kết thúc thắng lợi.
a2. Ý nghĩa lịch sử
Đối với nước ta, việc đề ra và thực
hiện thắng lợi đường lối kháng chiến, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân đã làm
thất bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp được đế quốc Mỹ giúp sức ở
mức độ cao, buộc chúng phải công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của
các nước Đông Dương; đã làm thất bại âm mưu mở rộng và kéo dài chiến tranh của
đế quốc Mỹ, kết thúc chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương; giải phóng hoàn
toàn miền Bắc, tạo điều kiện để miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội làm căn cứ
địa, hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh ở miền Nam; tăng thêm niềm tự hào dân tộc cho
nhân dân ta và nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Đối với quốc tế, thắng lợi đó đã cổ
vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, mở rộng địa bàn, tăng
thêm lực lượng cho chủ nghĩa xã hội và cách mạng thế giới; cùng với nhân dân
Lào và Campuchia đập tan ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới,
trước hết là hệ thống thuộc địa của thực phân Pháp.
Đánh giá về ý nghĩa lịch sử của cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Hồ Chí Minh nói: "Lần đầu tiên
trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng
mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một
thắng lợi của các lực lượng hoà bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế
giới".
b. Nguyên nhân thắng lợi và bài học
kinh nghiệm
b1. Nguyên nhân thắng lợi
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp và can thiệp Mỹ là kết quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân, trong
đó nổi bật là:
- Có sự lãnh đạo vững vàng của Đảng
với đường lối kháng chiến đúng đắn đã huy động được sức mạnh toàn dân đánh
giặc; có sự đoàn kết chiến đấu của toàn dân tập hợp trong mặt trận dân tộc
thống nhất rộng rãi - Mặt trận Liên Việt, được xây dựng trên nền tảng khối liên
minh công nông và trí thức vững chắc.
- Có lực lượng vũ trang gồm ba thứ
quân do Đảng ta trực tiếp lãnh đạo ngày càng vững mạnh, chiến đấu dũng cảm, mưu
lược, tài trí, là lực lượng quyết định tiêu diệt địch trên chiến trường, đè bẹp
ý chí xâm lược của địch, giải phóng đất đai của Tổ quốc.
- Có chính quyền dân chủ nhân dân,
của dân, do dân và vì dân được giữ vững, củng cố và lớn mạnh, làm công cụ sắc
bén tổ chức toàn dân kháng chiến và xây dựng chế độ mới.
- Có sự liên minh đoàn kết chiến đấu
keo sơn giữa ba dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia cùng chống một kẻ thù chung;
đồng thời có sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của Trung Quốc, Liên Xô, các nước xã hội
chủ nghĩa, các dân tộc yêu chuộng hoà bình trên thế giới, kể cả nhân dân tiến
bộ Pháp.
b2. Bài học kinh nghiệm
Trải qua quá trình lãnh đạo, tổ chức
cuộc kháng chiến kiến quốc, Đảng ta đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quan
trọng.
Thứ nhất, đề ra đường lối đúng đắn
và quán triệt sâu rộng đường lối đó cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực
hiện, đó là đường lối chiến tranh nhân dân, kháng chiến toàn dân, toàn diện,
lâu dài dựa vào sức mình là chính.
Thứ hai, kết hợp chặt chẽ, đúng đắn
nhiệm vụ chống đế quốc với nhiệm vụ chống phong kiến và xây dựng chế độ dân chủ
nhân dân, gây mầm mống cho chủ nghĩa xã hội, trong đó nhiệm vụ tập trung hàng
đầu là chống đế quốc, giải phóng dân tộc, bảo vệ chính quyền cách mạng.
Thứ ba, thực hiện phương châm vừa
kháng chiến vừa xây dựng chế độ mới, xây dựng hậu phương ngày càng vững mạnh để
có tiềm lực mọi mặt đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến.
Thứ tư, quán triệt tư tưởng chiến
lược kháng chiến gian khổ và lâu dài, đồng thời tích cực, chủ động đề ra và
thực hiện phương thức tiến hành chiến tranh và nghệ thuật quân sự sáng tạo, kết
hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao, đưa kháng chiến đến thắng lợi.
Thứ năm, tăng cường công tác xây
dựng Đảng, nâng cao sức chiến đấu và hiệu lực lãnh đạo của Đảng trong chiến
tranh.






0 nhận xét:
Đăng nhận xét